Louis Pasteur, cha đẻ ngành văcxin chưa bao giờ học y

Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Chưa bao giờ chính thức theo học y khoa, với những đóng góp to lớn, Louis Pasteur vẫn được coi như một thầy thuốc vĩ đại và được tôn vinh thành “ân nhân của nhân loại”.

Hiếm người cứu sống nhiều sinh mạng hơn Louis Pasteur. Những văcxin ông phát triển đã bảo vệ hàng triệu dân. Nghiên cứu của ông về vi trùng đã cách mạng hóa y tế. Ông còn tìm ra cách thức mới giúp thực phẩm an toàn để ăn. Tờ BBC nhận định, Pasteur đã thay đổi hoàn toàn hiểu biết của nhân loại về sinh học, trở thành “cha đẻ ngành vi sinh vật”.

louis-pasteur-cha-de-nganh-vacxin-chua-bao-gio-hoc-y

Chân dung Louis Pasteur. Ảnh: Nadar.

Sinh ngày 27/12/1822 tại Dole, Jura (Pháp), Pasteur vốn là một học sinh bình thường với niềm đam mê dành cho hội họa. Trong khi giáo viên ra sức ủng hộ Pasteur đi theo nghệ thuật, cha ông chỉ coi đó là một thú vui và muốn con chuyên tâm vào việc học tập ở trường. Pasteur từng nói cha ông muốn con “thấm nhuần sự vĩ đại của nước Pháp” ngay từ thuở mới học chữ.

Đến Đại học Strasbourg, Pasteur bắt đầu sự nghiệp hóa học và nhanh chóng gây tiếng vang. Ở tuổi 25, ông mang đến cho nền khoa học cống hiến quan trọng nhất của mình khi chứng minh phân tử giống hệt nhau có thể tồn tại như hình ảnh trong gương.

Nghiên cứu hóa học giúp Pasteur giải được một trong những bí ẩn lớn nhất ngành sinh học thế kỷ 19. Suốt 2.000 năm, con người tin rằng sự sống xuất hiện một cách tự nhiên, bọ chét lớn lên từ bụi còn giòi đến từ xác chết. Bằng một thí nghiệm chuẩn mực, Pasteur chứng minh thực phẩm hỏng do nhiễm vi khuẩn trong không khí. Ông đi đến kết luận những vi khuẩn này có thể gây bệnh. Lý thuyết gây nhiều tranh cãi bởi Pasteur là một nhà hóa học chứ không phải bác sĩ, song lại dẫn đến sự phát triển của thuốc khử trùng nhờ đó thay đổi nền y học mãi mãi.

Chú ý đến Pasteur sau lý thuyết mầm bệnh, Napoleon III giao cho ông xử lý một vấn đề mà ngành công nghiệp rượu vang của Pháp khi ấy đối mặt. Rượu vang của Pháp nổi tiếng khắp châu Âu nhưng rất hay bị hỏng trong quá trình vận chuyển. Pasteur nhận thấy hiện tượng này do vi khuẩn gây ra và nếu làm nóng rượu đến 55 độ C, vi khuẩn sẽ bị tiêu diệt mà không phá hỏng mùi vị rượu. Ngày nay, quá trình ấy được gọi là tiệt trùng, ứng dụng để bảo vệ thực phẩm khỏi nhiễm bệnh.

Sau rượu vang, Pasteur ra tay cứu ngành công nghiệp tơ nhờ phát hiện tằm bị bệnh do ký sinh trùng. Lời khuyên cách ly, loại bỏ những cá thể mang bệnh của ông đã tạo nên cú hích cho nền kinh tế Pháp. Tiếng tăm của Pasteur ngày càng được củng cố.

Ở tuổi 45, Pasteur bị đột quỵ dẫn đến liệt một phần nửa cơ thể bên trái. Từ lúc này, ông vùi đầu vào công việc để quên đi những mất mát to lớn. Thời đại ấy, trẻ em thường tử vong do những bệnh truyền nhiễm. Bản thân nhà khoa học đã mất đi 3 con gái vào các năm 1859, 1865, 1866 do bệnh thương hàn và ung thư. Pasteur đau đớn đến mức thốt lên “thứ duy nhất có thể mang lại niềm vui là công việc”. Bi kịch gia đình trở thành động lực để ông bắt đầu cuộc chiến chống lại bệnh truyền nhiễm.

Đầu tiên, Pasteur cùng đội ngũ phát triển nghiên cứu về bệnh tả gà. Ông tiêm vi khuẩn tả vào đàn gà, các con vật bị ốm nhưng không chết như mong đợi rồi sau hình thành khả năng kháng vi khuẩn độc lực mạnh. Pasteur nhận ra mầm bệnh yếu có thể giúp động vật tăng cường miễn dịch, tạo nên bước ngoặt tiếp nối thành tựu của Edward Jenner trước đó một thế kỷ.

Pasteur nảy sinh ý định điều chế văcxin cho các bệnh khác. Ông chuyển hướng quan tâm sang bệnh than và tuyên bố tìm ra văcxin hiệu quả trên 31 loại động vật.

Pasteur tiếp tục với bệnh dại, căn bệnh với các triệu chứng khủng khiếp dẫn đến cái chết đau đớn kéo dài. Ông gặp Joseph Meister, một cậu bé bị chó dại cắn. Khi đó chẳng ai chắc chắn Joseph sẽ mắc bệnh dại nhưng Pasteur vẫn liều lĩnh thử văcxin trên cậu bé dù trước đó chưa từng tiêm cho người. Kết quả, Joseph sống sót. Cuộc thử nghiệm văcxin đầu tiên trên người ngày 6/7/1885 thành công dù vấp phải nhiều phản ứng rằng Pasteur vi phạm đạo đức nghề nghiệp do không có giấy phép hành nghề y.

louis-pasteur-cha-de-nganh-vacxin-chua-bao-gio-hoc-y-1

Louis Pasteur trong phòng làm việc. Tranh: A. Edelfeldt.

Kết quả nghiên cứu về bệnh dại được Pasteur trình bày trước Viện Hàn lâm Khoa học Pháp vào ngày 1/3/1886. Nhân dịp này, ông đề nghị thành lập cơ sở sản xuất văcxin chống bệnh dại. Năm 1887, Pasteur nhận 2 triệu Franc Pháp tiền quyên góp. Đến năm 1888, Tổng thống Sadi Carnot cho xây dựng Viện Pasteur đầu tiên tại Pháp rồi mở rộng sang các vùng thuộc địa như Senegal, Bờ biển Ngà. Tôn chỉ của Viện Pasteur từ đó đến nay không thay đổi: nghiên cứu chế tạo văcxin và thực hiện tiêm phòng chống lại các bệnh truyền nhiễm.

Thành tựu nổi bật đầu tiên của Viện Pasteur là xác định cơ chế gây bệnh của bệnh bạch hầu. Công trình do Emile Roux cùng Alexandre Yersin thực hiện đã đưa đến phương pháp chữa trị và cuối cùng là văcxin. Ngày nay, 85% trẻ em toàn thế giới được tiêm chủng văcxin bạch hầu.

Pasteur điều hành Viện Pasteur Paris cho đến khi qua đời vào ngày 28/9/1895 ở tuổi 72. Thi hài “anh hùng quốc gia” được chôn cất ở Nhà thờ Đức Bà rồi chuyển sang trụ sở Viện Pasteur. Năm 1940 khi phát xít Đức xâm chiếm Paris, người gác cổng Viện Pasteur chính là cậu bé Joseph ngày trước đã kiên quyết không mở hầm mộ. Joseph đã tự vẫn để không bao giờ xúc phạm đến thi hài ân nhân của mình.

Giờ đây, Louis Pasteur được nhớ đến như một trong những người đầu tiên đặt nền móng cho y tế phòng ngừa. Các công trình của ông tiếp tục cứu sống hàng triệu người trên thế giới. Ngày 17/2, “cha đẻ ngành vi sinh vật” được UNESCO ghi vào danh sách “Ký ức Thế giới”, trở thành nhà khoa học thứ 4 trên thế giới nhận vinh dự này.

Minh Nguyên

Thảm họa kháng thuốc tại Việt Nam “khủng khiếp” nhất thế giới

%(count) bình luận

Bác sĩ lạm dụng kháng sinh trong kê toa, người dân dùng thuốc điều trị vô tội vạ đang khiến nhân loại phải đối mặt với thảm họa kháng thuốc. Những lỗ hổng trong quản lý dược phẩm đã đẩy Việt Nam rơi vào “vùng trũng” của tình trạng kháng thuốc.

Nguy cơ không có thuốc điều trị trong tương lai

Sau 70 năm kể từ khi khoa học phát hiện ra kháng sinh penicilline đến nay, hàng trăm loại kháng sinh và các thuốc tương tự đã được phát minh, đưa vào sử dụng. Sự ra đời của kháng sinh đánh dấu kỷ nguyên phát triển mới của y học về điều trị các bệnh nhiễm khuẩn.

Người bệnh có nguy cơ không còn thuốc điều trị do tình trạng kháng thuốc
Người bệnh có nguy cơ không còn thuốc điều trị do tình trạng kháng thuốc

Ngoài vai trò trong y học đối với loài người, thuốc chống vi khuẩn còn được sử dụng rộng rãi trong chăn nuôi gia súc, gia cầm, thủy sản và trồng trọt để điều trị, phòng chống dịch bệnh trên động vật, cũng như cho mục đích sản xuất. Sử dụng kháng sinh có lợi ích to lớn trong điều trị, chăm sóc người bệnh và cả thú y khi được kê đơn và điều trị đúng.

Tuy nhiên, những loại thuốc này đã được sử dụng rộng rãi, kéo dài, lạm dụng, làm cho các vi sinh vật thích nghi với thuốc, tạo điều kiện cho nhiều loại vi khuẩn trở thành kháng thuốc, làm cho thuốc kém hiệu quả hoặc không hiệu quả. Tình trạng kháng thuốc không chỉ là mối lo ngại của các bác sĩ lâm sàng trong điều trị mà còn là thảm họa chung đối với sức khỏe cộng đồng.

Phân tích của ThS.DS Cao Huy Thái, Phó cục trưởng Cục Quản lý Khám chữa bệnh (Bộ Y tế) chỉ ra: Kháng thuốc không phải là vấn đề mới bởi nó xảy ra ngay từ khi con người sử dụng các loại thuốc để điều trị bệnh. Kháng thuốc là tình trạng các vi sinh vật như: vi khuẩn, vi rút, nấm, ký sinh trùng… kháng lại các thuốc kháng sinh đã nhạy cảm với các vi sinh vật này trước đây, nó là cuộc chiến giữa con người và vi rút gây bệnh.

Sinh vật đề kháng có thể chịu được sự tấn công của các thuốc chống vi khuẩn khiến việc áp dụng các phương pháp, thuốc điều trị đặc hiệu sẽ trở nên không hiệu quả, nhiễm khuẩn kéo dài nguy cơ tử vong cao và có thể lây lan cho người khác. Kháng thuốc là hệ quả tất yếu của quá trình sử dụng thuốc trong điều trị và đặc biệt gia tăng khi việc lạm dụng thuốc kháng sinh ngày càng phổ biến hơn.

Trên thế giới đã xuất hiện các vi khuẩn kháng với hầu hết kháng sinh, còn gọi là vi khuẩn siêu kháng thuốc. Ở Việt Nam, hầu hết các cơ sở khám, chữa bệnh đang phải đối mặt với tốc độ lan rộng các vi khuẩn kháng với nhiều loại kháng sinh. Mức độ và tốc độ kháng thuốc ngày càng gia tăng ở mức báo động.

Gánh nặng do kháng thuốc khiến chi phí điều trị tăng lên, ngày điều trị kéo dài, ảnh hưởng đến sức khỏe người bệnh và sự phát triển chung của xã hội. Nếu không có giải pháp can thiệp kịp thời, trong tương lai, nhân loại có thể phải đối mặt với khả năng không có thuốc để điều trị hiệu quả các bệnh truyền nhiễm.

Kháng kháng sinh tại Việt Nam cao nhất thế giới

Một kết quả khảo sát của ngành y tế về việc bán thuốc kháng sinh ở các hiệu thuốc vùng nông thôn và thành thị các tỉnh phía Bắc cho thấy, nhận thức về kháng kháng sinh của người bán thuốc và người dân còn thấp. Kháng sinh đóng góp 13,4% (ở thành thị) và 18,7% (ở nông thôn) trong tổng doanh thu của hiệu thuốc. Phần lớn kháng sinh được bán mà không có đơn (88% thành thị và 91% nông thôn). Người dân mua kháng sinh tại các nhà thuốc dễ như mua rau ngoài chợ.

Tình trạng sử dụng thuốc và kháng sinh không hợp lý dẫn đến kháng thuốc, cũng rất phổ biến tại các bệnh viện. ThS.DS Huy Thái cho biết: Các bệnh viện ở những quốc gia phát triển đều có hệ thống labo xét nghiệm định danh vi rút, giúp bác sĩ kê toa chính xác loại kháng sinh cần sử dụng trong điều trị cho từng bệnh nhân. Tại Việt Nam, nhiều bệnh viện tuyến trên và hầu hết các bệnh viện tuyến quận huyện trở xuống đều không có labo xét nghiệm, bác sĩ sử dụng kháng sinh trong điều trị cho bệnh nhân dựa trên kinh nghiệm là chính.

Thống kê của Bộ Y tế chỉ ra, có tới 76% bác sĩ kê toa kháng sinh không phù hợp. Đây là nguyên nhân khiến 33% người bệnh bị kháng thuốc. Trong khi các quốc gia phát triển đang còn sử dụng kháng sinh thế hệ 1 thì Việt Nam đã sử dụng tới kháng sinh thế hệ 3 và 4, chi phí kháng sinh trong điều trị chiếm tới 17% trên tổng chi cho phí dịch vụ khám chữa bệnh của người dân. Tổ chức Y tế thế giới đã liệt Việt Nam vào danh sách nước có tỷ lệ kháng kháng sinh cao nhất trên toàn cầu.

Đại diện Bộ Y tế thừa nhận, mặc dù Việt Nam đã có quy định bắt buộc các nhà thuốc chỉ được bán kháng sinh theo toa, bác sĩ chỉ kê toa kháng sinh trong những trường hợp cần thiết, nhưng kháng sinh vẫn được bán một cách bừa bãi. Đây là nguyên nhân do nhận thức về sự nguy hiểm của tình trạng kháng thuốc trong cộng đồng còn hạn chế, công tác quản lý nhà nước về dược phẩm còn lỏng lẻo, chế tài xử lý chỉ là phạt hành chính nên chưa đủ sức răn đe đối với những đơn vị sai phạm.

Để ngăn chặn tình trạng kháng thuốc đang ngày càng gia tăng, ông Nguyễn Đình Anh, Vụ trưởng Vụ Truyền thông Thi đua Khen thưởng (Bộ Y tế) cho hay, từ ngày 16 đến 22/11/2015 lần đầu tiên tại Việt Nam, Bộ Y tế sẽ phát động tuần lễ phòng chống kháng thuốc với khẩu hiệu “không hành động hôm nay, ngày mai không còn thuốc chữa.”

Mục tiêu của sự kiện, hướng tới kêu gọi sự chung tay của toàn xã hội đối với việc phòng chống kháng thuốc; nâng cao nhận thức của người dân và cán bộ y tế thực hiện các biện pháp phòng chống kháng thuốc trong cộng đồng. Bộ Y tế kêu gọi mỗi người dân chỉ mua và sử dụng thuốc kháng sinh khi được bác sĩ khám bệnh, kê đơn và tuân thủ phác đồ điều trị của bác sĩ; sử dụng kháng sinh trong trồng trọt, chăn nuôi theo đúng hướng dẫn; cán bộ y tế tuân thủ các hướng dẫn chuyên môn, sử dụng kháng sinh trong điều trị hợp lý, an toàn cho người bệnh.

Vân Sơn

Chiếu xạ Thực phẩm

Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Chuỗi bài viết về Chiếu xạ Thực phẩm bạn cần biết:

thucphamcongdong.vn-ChieuXaAnhHuongDenThucPhamNhuTheNao

thucphamcongdong.vn-NhungKienThucVeThucPhamChieuXa

thucphamcongdong.vn-AnToanThucPhamChieuXa

thucphamcongdong.vn-ChieuXaThucPham-NhungDieuBanCanBiet

thucphamcongdong.vn-LichSuChieuXaThucPham

Nguồn http://thucphamcongdong.vn/

Giáo sư Penicillin

Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Những cơn mất ngủ vì lo lắng cuối cùng lại tình cờ mách cho GS Đặng Văn Ngữ cách gây lại chủng nấm penicillin…

Người Việt tài trí: Giáo sư Penicillin
GS Đặng Văn Ngữ (trái) và con trai – đạo diễn Đặng Nhật Minh – Ảnh chụp lại từ sách

Cách đây hơn 60 năm, vị khách kỳ cục Đặng Văn Ngữ khiến một cán bộ sinh nghi khi làm khách ở Thông tấn xã VN tại Bangkok (Thái Lan) chờ ngày về nước theo kháng chiến. “Ông khách từ khi vào phòng, đóng cửa lục đục suốt buổi. Mời đi ăn trưa cũng không mở cửa, nói vọng ra là không ăn… Gõ cửa rất lâu cửa mới mở. Cả gian phòng toàn chai lọ, dụng cụ bày lung tung. Đồng chí nhận định thế nào, là ta hay là địch” – cán bộ ấy ngay lập tức báo cáo với đại diện Chính phủ ta tại Bangkok.

Ban Cán sự Trung ương hải ngoại sau đó điện hỏa tốc về Bộ Chính trị xin ý kiến. Chỉ sau 24 giờ, điện sang có câu đầu tiên: “Hồ Chủ tịch gửi lời chúc mừng bác sĩ Đặng Văn Ngữ đã trở về Tổ quốc”. Suốt trên chặng đường, ông Ngữ chỉ nói đến một việc – trở về để sản xuất kháng sinh Penicillin.

Tới chiến khu, bác sĩ Ngữ phải chọn rất kỹ nơi lưu trữ chủng nấm chiết xuất ra kháng sinh Penicillin mang từ Nhật Bản về này. Thế nhưng, điều ông không mong muốn vẫn xảy ra. “Về đến nhà, mở gói nấm dùng để làm Penicillin ra xem lại thì thấy nấm không còn công hiệu nữa”, sau này ông Ngữ viết trong hồi ký.

“Những nấm khác ở ngoài đã lẫn lộn vào. Thật là một sự bất ngờ và rất đau đớn cho tôi. Trước khi đi tôi đã chú ý để giống nấm vào phòng sạch sẽ nhất Việt Bắc, là phòng mổ của anh Tùng (GS Tôn Thất Tùng – NV), thế mà vẫn bị tạp nấm rơi vào. Có người đã bảo ở VN nhiều tạp nấm lắm, nên không nghiên cứu về nấm được. Ngay ở Viện Pasteur có đủ phương tiện như vậy, bọn Pháp cũng không đặt vấn đề nghiên cứu nấm được huống hồ là ở Việt Bắc”.

Sự cố nấm lẫn tạp chủng lừng lững như bức tường chặn công việc mà đích thân Bác Hồ giao cho ông – sản xuất nước lọc Penicillin để cứu chữa thương binh trong kháng chiến. Những ngày sau đó với ông Ngữ chỉ còn là đêm nghĩ về nấm, ngày loay hoay với nấm. “Ngày ngày tôi cấy hàng trăm cái nấm lấy ở ống giống ra để thử với vi trùng. Nhưng ngày nào cũng như ngày nào, vi trùng đều mọc quanh cái nấm chứng tỏ rằng nấm không còn có tác dụng nữa. Đêm đến, vấn đề nấm đeo đuổi tôi mãi không ngủ được”, ông Ngữ nhớ lại.

Rồi trong một lần thức giấc vào 3 giờ sáng, điều kỳ diệu đã đến khi ông lấy nấm ra xem. Ông mừng đến trào nước mắt khi thấy tất cả các con nấm đều có công hiệu, vi trùng không con nào mọc. Như thế nghĩa là nấm chưa hoàn toàn mất. Một tuần theo dõi nấm mọc hàng giờ sau đó, ông đã có lại nấm tốt như cũ.

Sau đó ông đã tìm ra được một thứ nước nuôi nấm rất tốt và rẻ tiền là nước thân ngô. Đúng hơn, nguyên liệu đó tìm đâu cũng thấy và hoàn toàn không mất tiền mua. Phương pháp nuôi để lấy nước lọc Penicillin được thực hành ở nhiều trạm, thậm chí có bác sĩ quân y tuyên bố đã dư dùng để chữa bệnh cho thương binh. “Những thành tích xán lạn của nước lọc Penicillin qua các chiến dịch Trần Hưng Đạo, Hoàng Hoa Thám và gần đây, kết quả rực rỡ của nước lọc Penicillin trong chiến dịch Lý Thường Kiệt càng làm phấn khởi anh em dược tá Penicillin đang cần cù và hăng hái góp sức xây dựng một ngành mới của y học trong khi phục vụ tiền tuyến”, BS Hồ Đắc Di, Giám đốc Trường đại học Y bấy giờ, đánh giá.

Sau này, cháu nội của GS Đặng Văn Ngữ là BS Đặng Phương Lan đã có  kỷ niệm thú vị liên quan đến nghiên cứu của ông mình khi theo học tại Đại học Y khoa Budapest (Hungary). Được thầy khen về một công trình nghiên cứu trong trường, chị vui vẻ nói với thầy hướng dẫn đại ý nghiên cứu này đâu có thấm thía gì so với ông nội chị – nhà bác học đầu tiên tìm ra giống nấm nhả Penicillin ở châu Á, chỉ sau Flemming ở châu Âu ít lâu. Vị giáo sư ngạc nhiên quá đỗi vì cho tới lúc ấy phần lớn người Hung chỉ biết Việt Nam có chiến tranh, đất nước kém phát triển chứ không có thêm khái niệm gì khác. “Từ lần đó, không biết có phải do nể ông nội tôi hay không, thầy hướng dẫn tôi rất nhiệt tình, bài luận án của tôi được giải nhất trong cuộc thi sinh viên”, chị Lan nhớ lại.

“Tôi không đi theo con đường nghiên cứu của ông nội nhưng cả gần chục năm học trên trường y giúp cho tôi trân trọng, tôn kính những người làm khoa học”, chị Lan viết. “Bên cạnh đó, tôi cũng biết được rằng trong xã hội hiện nay, không phải cứ ai học nhiều đều trở thành bác học cũng như nhiều người ít học mà vẫn sống ung dung. Chỉ có điều, con người ta cần đến kiến thức để phân biệt được đâu là những giá trị thật và giả trong cuộc sống. Tấm gương về cuộc đời và sự nghiệp của ông nội tôi sẽ giúp tất cả những ai muốn hiểu ra điều đó. Tôi rất hãnh diện vì ông nội của mình, một người ông chưa bao giờ được gặp mặt nhưng lại luôn ở trong trái tim tôi”.

 

GS Đặng Văn Ngữ (1910-1967)  sinh trong một gia đình nhà nho nghèo. Năm 1930, ông đỗ cả tú tài bản xứ và tú tài Pháp, nhờ vậy có học bổng khi theo học tại Đại học Y Dược. Tốt nghiệp bác sĩ y khoa năm 1937. Năm 1943, ông được chọn đi nghiên cứu về y khoa tại Nhật Bản. Năm 1949, ông về nước tham gia kháng chiến.

Ông đã tổ chức sản xuất được “Nước lọc Penicillin” nổi tiếng trong kháng chiến chống Pháp. Hòa bình lập lại, ông xây dựng ngành ký sinh trùng Việt Nam. Năm 1957, ông sáng lập Viện Sốt rét, Ký sinh trùng và côn trùng.

Ông hy sinh khi đang nghiên cứu sốt rét ở Trường Sơn. GS Đặng Văn Ngữ được tặng thưởng 2 Huân chương Kháng chiến, truy tặng Huân chương Lao động hạng nhất và danh hiệu Anh hùng. Năm 1996 ông được nhà nước truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh trong lĩnh vực khoa học kỹ thuật.

Trinh Nguyễn

Amip ăn não người

%(count) bình luận

(TNO) “Thêm một trường hợp viêm não do amip Naegleria Fowleri đã được khẳng định bằng xét nghiệm”, thông tin này được ông Trần Thanh Dương, Phó cục trưởng Cục Y tế dự phòng cho biết sáng nay 18.9.
Thêm một trường hợp tử vong nghi do amip “ăn não người”?
Phòng amip ăn não người
Xuất hiện amip “ăn não người” ở Việt Nam
 
Hình ảnh ký sinh trùng amip Naegleria fowleri tấn công và “ăn não” – Ảnh: CDC
Trao đổi với Thanh Niên Online, ông Dương cho biết, kết quả xét nghiệm với mẫu bệnh phẩm của bệnh nhi 6 tuổi được thực hiện  tại TP.HCM. Như vậy, từ tháng 8 đến nay đã có hai ca viêm não do amip được phát hiện.
Theo ông Nguyễn Văn Bình, Cục trưởng Cục Y tế dự phòng (Bộ Y tế), tại Hoa Kỳ, trong vòng 49 năm (1962 -2011) chỉ ghi nhận 123 trường hợp, với số mắc trung bình 0-8 trường hợp/năm nhưng duy nhất một trường hợp được cứu sống. Các trường hợp mắc bị nhiễm từ công trình chứa nước nhân tạo, từ suối nước nóng tự nhiên, nước uống chưa được khử trùng.
Ông Dương lo ngại, mặc dù bệnh được biết đến là rất hiếm gặp nhưng việc phát hiện và xác định hai ca nhiễm trong thời gian 4-5 tuần thực sự cần có các cảnh báo đến người dân về phòng bệnh.
 
Đường đi của amip từ môi trường tự nhiên vào cơ thể người – Ảnh: CDC
Trước mắt, Cục đã có văn bản Giám đốc Sở Y tế, Trung tâm Y tế dự phòng Phú Yên (nơi có ca bệnh đầu tiên được phát hiện ngày 30.7 là bệnh nhân nam 24 tuổi); gửi Sở Y tế, Trung tâm Y tế dự phòng TP.HCM (địa phương tiếp nhân, điều trị ca bệnh) và gửi các viện Vệ sinh dịch tễ/Paster Nha Trang, TP.HCM tăng cường giám sát chẩn đoán để phát hiện sớm các trương hợp nhiễm Naegleria fowleri.
Theo ông Dương, viêm não – viêm màng não do amip đơn bào Fowleri là bệnh rất hiểm gặp, nhưng tỷ lệ tử vong rất cao. Amip này sống trong nước ao hồ có nhiệt độ ấm (khoảng 30 độ C), xâm nhập bằng cơ thể qua niêm mạc mũi rồi đi lên não.
“Có tài liệu cho biết, không chỉ có trong ao hồ tự nhiên ở nhiệt độ phù hợp, đơn bào này có thể tồn tại trong nước hồ bơi. Tuy nhiên, nguy cơ thấp hơn so với nước ao hồ tự nhiên vì nước hồ bơi thường sử dụng chất sát khuẩn. Sau khi bơi lặn nên phòng bệnh bằng các dung dịch nước muối 0,9%; Clorcid 0,4%.  
 Liên Châu